
Hảỉ Đông Đàlạt
Sau những năm tháng biền biệt trong nhiều trại cải tạo, anh trở về với tôi bằng một thân thể gầy gò, bịnh hoạn và một món quà kỷ niệm xương máu duy nhất là Quyển Nhật Ký cũ rách viết ngược bằng nhiều màu mực và nét chữ đẹp xấu khác nhau để tránh sự tịch thu của quản giáo. Ôi! một thanh niên khỏe mạnh đầy sức sống, cường tráng cao 1m85, mõt sinh viên sĩ quan tiêu biểu đã từng cầm cờ đi đầu trong quân đoàn diễn hành xưa, nay chỉ là bộ xương cách trí biết đi, một người thanh niên trẻ có gương mặt ông già. Những năm học tập đã làm anh khác hẳn. Tôi chỉ nhận ra anh nhờ đôi mắt sáng kiêu hãnh, bất khuất, đầy hy vọng và tràn ngập vui mừng khi gặp lại tôi.
Mở món quà đi xa về của anh ra, tôi vô cùng xúc động khi thấy đó là Quyển Nhật Ký anh đã lén lút viết như một độc thoại với tôi hàng ngày. Anh bảo rằng nhờ sự độc thoại nầy, anh đã vượt qua mọi đau khổ, nuôi hy vọng phải còn sống để trở về với tôi, với người yêu nhỏ bé tội nghiệp, ngơ ngác, hoảng hốt nhìn anh ngày đi vào trại tập trung.
Phần đầu, anh viết về
những kỹ niệm tuổi thơ của nhóm bạn con nít trong xóm mà nhân vật chính là tôi-
đứa con gái tính trái khoáy như con trai, chuyên tập trung bạn nhỏ cả trai lẫn
gái để chơi trò cờ lau đánh trận, kết mão vua bằng lá cây mít sau nhà. Anh là
cậu bé 10 tuổi ngơ ngác vừa nới theo gia đình đến làng tôi lánh nạn chiến tranh.
Anh xin gia nhập nhóm con nít chúng tôi qua sự duyệt xét đồng ý của nữ chúa-
chính là tôi....Rồi theo năm tháng lớn lên, anh tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc
Gia. Hai năm sau tôi cũng khăn gói theo học trường đại học Đàlạt. Thế là chúng
tôi gặp nhau nơi xứ mộng mơ. Lần nầy nữ chúa trở thành người yêu bé bỏng, dịu
dàng của anh. Trong những ngày nghỉ cuối tuần, chúng tôi tay trong tay những
chiều lộng gió trên đồi thông, qua phố sương mù, xem thác suối, ngắm hoa cảnh
đẹp chiều vàng. Tình yêu thật đẹp với nhiều ước mơ dự tính tương lai khi tốt
nghiệp.
Biến cố 30 tháng tư đen
1975! Ước mơ chưa thành đã tan theo khói súng. Chúng tôi đau khổ, lo sợ nghĩ đến
viễn ảnh sẽ đen tối rằng mình sẽ cách xa nhau và giống như nhân vật Moritz và
Suzanna trong tiểu thuyết "Giờ thứ 25" của tác giả C.Virgil Gheorghiu. Quả thật
nổi lo sợ của chúng tôi không sai. Anh nhất định không đầu hàng nên đã trốn
không trình diện tập trung giữa năm 1975, đến đầu 1976, vì sự sàng lọc bằng thủ
tục "xin giấy phép đi đường " cho tất cả mọi người dân muốn đi
ra khỏi vùng mình
ở, anh đã bị bắt đưa vào trại cải tạo trên đường về Cần Thơ làm ruộng cho người
quen để kiếm sống. Sau đó là những năm tháng lưu đài khổ sai, ngày anh đi lao
động khai phá ruộng đất hoang, đào lấy bom còn sót dưới lòng đất ... Có những
người bạn anh còn cười nói buổi sáng khi vác cuốc ra đi. Chiều đã tan xác vì bom
nổ khi đào xới, chết vì bom dù chiến tranh đã chấm dứt. Tối anh ngủ trên sàn đất
lạnh lẽo với một chân bị xiềng xích vào cây sắt, 10 người thành một nhóm. Lao
động quá cực khổ, cơm không đủ ăn, anh ngã bịnh nặng nhiều lần tưởng chết. Có
đôi khi chính anh cũng muốn chết cho thoát khỏi sự hành hà thân xác hoặc tìm cánh
trốn trại đi vượt biên. Nhưng anh nghĩ đến tôi đang chờ đợi anh mòn mỏi ở quê
nhà. Anh phải sống! Trong cùng cực ấy anh đã viết ở phần hai quyển nhật ký ngược,
kể tôi nghe cuộc sống những ngày cải tạo ở các trại tập trung....Tôi vẫn tiếp
tục đi học và viết những bức thư không gửi được..
Sau 3 năm anh được phóng thích. Về trong bịnh hoạn, anh vẫn bị quản thúc đưa đi vùng kinh tế mới và phải trình diện UBND xã mỗi tuần, mỗi tháng phải đi lao động thủy lợi đào kinh miễn phí cho xã, quyền công dân bị tước đoạt nên không được đi đâu ra khỏi vùng.
Quyển nhật ký giúp chúng tôi hâm nóng lại tình yêu nồng cháy dễ dàng và cũng là quà cầu hôn của anh với tôi sau bao năm chờ đợi. Tôi biết anh không còn gì cho tương lai và cũng không thể sống lâu, nhưng tôi vẫn quyết định sống đời với anh. Cuối năm 1978 chúng tôi thành hôn trong sự nghèo khó của anh và xã hội, với thành kiến vế chính trị và trong sư phê phán của bạn bè tôi. Đám cưới nghèo có 15 người tham dự. Tôi xa lìa gia đình cha mẹ ở phố thị theo anh về sống nơi lều tranh, vách đất, nóc thấy trời ở vùng kinh tế mới Củ Chi.
Thời kỳ 1976-1978 trở đi, trong nền kinh tế chỉ huy, xã hội VN thật là khốn khó. Nạn ngăn sông cấm chợ gắt gao. Ruộng đất bị quốc hữu hóa thành lâp tập đoàn, hợp tác xã, nông trường. các chỉ thị, nghị quyết cải tạo nông nghiệp làm khó nông dân trong sản xuất. Rồi chính sách phân loại tư sản mại bản, tư sản phú nông, địa chủ để đánh tư sản nông nghiệp, chính sách đánh tư sản thương nghiệp, công nghiệp tư nhân... Tiệm vàng. tiệm vải, thuốc tây, phòng khám bác sĩ tư... đều gom sạch vào tay chính quyền CS với chủ trương " quan hệ sản xuất công hữu hoá để phát triển phù hợp với lực lương sản xuất phát triển." Lúc bấy giờ nền công nghiệp VN -lực lượng sản xuất XHCN, có ra cái gì đâu mà nói phát triển đến nỗi mối quan hệ sản xuất tư nhân không quản lý nỗi được nên phải tập trung hết vào chính quyền, mệnh danh là chính sách công hữu toàn dân. Kinh tế độc quyền chỉ huy. Bên nông nghiệp thì vậy, còn bên thương nghiệp thì hình thành hệ thống cửa hàng quốc doanh phân phối nghiêm ngặt. Cái gì cũng phân theo sổ gia đình, theo nhân khẩu, theo tiêu chuẩn nầy nọ... Ngoài xã hội , nạn chợ trời, trí thức đi lao động chân tay, đạp xích lô, sửa vá xe đạp v.v.v như cảnh chợ trời và kỹ sư điện đi bán diêm quẹt trong vở kịch : Đồng hồ chuông điện Kremlin" của Nga sô được chiếu thời bấy giờ để biện minh cho xã hội tất yếu sau chiến tranh. Họ đã tốn biết bao nhiêu tiền của cho phong trào công hữu hoá, cải tạo công nông nghiệp nhưng nền kinh tế VN vẫn èo uột, thất bại. Xã hội nghèo túng, thiếu thốn, lạc hậu.
Người ta nói sống xa mặt
trời không bị nóng cháy. Đúng vậy. Chúng tôi sống tạm ổn bên cạnh những dân nghèo
thiếu thốn y tế và xa thành phố. Để tự cứu mình và giúp dân nghèo, anh sử dụng
kiến thức nghề y học và nghiên cứu y học dân tộc châm cứu để cứu biết bao nhiêu
người dân. Anh trở thành ông thầy thuốc nổi tiếng
cả vùng được nhiều người mến,
đến nổi dân chúng lấy tên riêng của anh để gọi vùng đất anh ở chữ bịnh. Nhưng
anh nhất định không làm cho chính quyền đương thời nên thường bị bọn địa
phương gây khó khăn. Tôi phải đáp xe đò về dạy học ở thành phố mỗi ngày. Dĩ
nhiên tôi chọn chuyên ngành về khoa học toán để khỏi phải tuyên truyền ý thức hệ
chế độ xã hội chủ nghĩa bấy giờ. Mong điều mình dạy thay đổi được tư tưởng cho
lớp trẻ đời sau, nên khi tôi đứng lớp dạy tôi thường lén tuyên truyền kiến thức
tư bản chủ nghĩa mà tôi đã hấp thụ được từ thời đi học ở Đai Học Đàlạt. Tôi vẫn
giấu không cho họ biết anh là ai trong quá khứ. Tôi luôn sống trong hồi hộp,
giấu giếm thân phận anh. Anh yêu mến dân làng nghèo khổ nên không muốn xa họ.
Khi hai con lần lượt ra đời, chúng tôi càng bận rộn công việc mưu sinh. Cuộc
sống thật là quá khó. Anh càng ngày càng yếu đi. Thuốc men thiếu thốn. Anh không
được tiêu chuẩn vào bệnh viện. Anh cứu được người, nhưng khi ở tình trạng mê man
thì anh không thể tự cứu mình. Anh trăn trối với mẹ con tôi rằng đáng lẽ anh chết
sớm như đã biết trước ban đầu, nhưng anh đã sống hạnh phúc, ý nghĩa thêm 8 năm
nữa. Và vậy là đã qúa đủ. Tôi phải cố gắng yêu thương con và tìm cách đưa con ra
hải ngoại để thực hiện ước mơ của anh.
Vào ngày cuối năm 1986, lúc tiếng pháo nổ vang đóng giao thừa là lúc mẹ con tôi từ giã thân xác anh. Thượng đế đã thương anh nên gọi anh đi sớm ở tuổi 35. Một người lính không quân ngũ. Một thầy thuốc dân dã. Một người chồng đáng yêu. Một người cha đáng kính. Trong lòng tôi anh vẫn sống. Quyển nhật ký anh và tôi viết chung phần ba chấm dứt từ lúc anh đi...
Anh Đông Hải biển tình vang sóng vỗ
Mang con thuyền lướt sóng đã ra khơi
Em ngôi nhà nhỏ vẫn đợi chờ
Đứng bên bờ muôn thuở mãi hoài mong
Bóng con thuyền mất xa tăm mù dạng
Đến bao giờ nhà nhỏ gặp biển xưa ?
Tôi thay anh viết tiếp phần bốn về cuôc đời vĩnh viễn không có anh. Tôi ôm hai đứa con trai 5 tuổi và
7 tháng tuổi về thành phố tìm mưu sinh. Cuộc sống cô giáo
góa bụa thật là khổ.
Lương ba cọc ba đồng, cơm không đủ con ăn nói chi là quà bánh xa xỉ. Cơ quan
không hỗ trợ giúp đỡ những người gia đình có chồng như tôi, thậm chí đứa con thứ hai cũng không được tiêu chuẩn phân phối gạo hằng tháng vì một người mẹ hoặc
cha chỉ được chuẩn mua gạo cho 1 đứa con. Thế là 3 mẹ con tôi chia nhau ăn chung
2 phần gạo. Mới 7 tháng tuổi con tôi đã phải ăn cơm vì không có chế độ sữa. Bất
mãn và đau khổ, tôi cũng muốn chết theo anh, nhưng rồi nhìn con thơ dại vô tội,
tôi lại đứng lên....Sau những buổi dạy học, tôi chở con trên chiếc xe đạp cọc
cạch đi bỏ mối nhang ở chợ, đi lãnh quần áo bảo hộ lao động về may gia công,
làm khuy nút $2 / 1 bộ chảy máu cả mấy ngón tay. Tôi lại đối thoại với anh qua
quyển nhật ký và di ảnh anh trên bàn thờ, đọc lại tập thư tình anh viết cho
tôi từng thư một kể từ lá thư đầu tiên anh mới làm quen tỏ tình yêu đến lúc cưới
nhau mà tôi đã giữ gìn cẩn thận. Tôi tìm sức mạnh, lòng tự tin và nghị lực qua
những di vật kỷ niệm nầy để tiếp tục nuôi con.
Đời là một bể sầu đầy cạm bẫy
Anh đi rồi bỏ hết lại cho em
Ôm các con ngơ ngác giữa dòng người
Chèo, chống, đỡ, ngả nghiêng như muốn lật....
Có lẽ anh chết không yên khi con còn quá nhỏ, nên tôi vẫn gặp lại anh nhiều lần trong giấc mơ. Anh phù hộ giúp tôi nuôi con và giúp tôi suy tính cuộc sống của mình. Cái khó ló cái khôn...Hai năm sau-1988- tôi suy nghĩ về cách áp dụng những gì tôi đã học ở trường Chính Trị Kinh Doanh Đàlạt ngày xưa- phải đi vào kinh doanh, "phi thường bất phú "... Lúc đó Việt Nam bắt đầu dò dẫm đi vào nền kinh tế thị trưiờng, ngoại ngữ Nga bắt đầu nhường chổ cho Anh, Pháp văn. Tôi mở cái quán nhỏ bán lẻ trước nhà kiếm sống sau giờ dạy học. Vốn không có, tôi lãnh hàng bán trước trả sau. Tôi bị cơ quan phê phán dữ dội rằng " Cô giáo làm con buôn là mất phẩm chất". Tôi không hề được cơ quan chọn là giáo viên tiên tiến, xuất sắc, không được cấp giấy khen "15 năm giảng dạy" dù tôi đã làm giảng viên hơn 20 năm và học trò đánh giá giỏi. Tôi vẫn không quan tâm đến bằng khen, không cần chức Đảng Đoàn gì cả. Tôi chỉ muốn nghiên về thuần túy khoa học giảng dạy và kinh doanh riêng hơn là chính trị suông của họ. Việc kinh doanh của tôi càng ngày càng mở rộng khá lên, từ bán lẻ, tiệm cỉa tôi trở thành nơi cung cấp sỉ trong vùng. Cửa hàng "Hải Đông" -tên của chồng tôi- trở nên quen thuộc với mọi người quanh vùng. Tôi còn giúp nhiều bạn hàng xóm phát triển kinh doanh như tôi. Hai bên phố nhà trở nên nhộn nhịp. Tôi thích dạy và học. Do đó tôi vẫn giữ nghề dạy dù lương không đủ sống. Tôi bắt đầu thuê vài nhân viên phụ trách kinh doanh cửa hàng do tôi quản lý. Có tiền tôi tập trung vào đầu tư việc học cho con và tôi. Kinh tế và xã hội VN ' thoáng' hơn. Tôi đi học ngoại ngữ Anh-Pháp, vi tính ban đêm. Nhờ ngoại ngữ nên ở tuổi trên 40 tôi được vào làm việc thêm cho tổ chức liên doanh tư bản phát triển với vai trò Trợ Lý đào tạo thuộc phòng nhân sự cho khách sạn quốc tế 4 sao đầu tiên ở sàigòn 1993. Tôi lại bị gán tiếng làm việc cho đế quốc Tây Mỹ. Một cô giáo mất chất chính trị ! Khổ chưa!
Năm 1996, lần đầu tiên
tôi thấy ngày nhật thực ở VN. Giửa ban ngày, ánh sáng tối dịu dàng như ánh trăng
đêm. Tôi nhớ rõ là ngày tôi đậu vào lớp Cao học kinh tế. Tôi nghĩ cuộc đời mình
sẽ thay đổi từ đây. Tôi vừa dạy học, vừa quản lý cửa hàng, vừa học ngoại ngữ, vi
tính, vừa học cao học kinh tế, vừa phải chăm sóc con cái. Một mình xoay đủ thứ
việc. Đối với tôi 24 giờ / ngày luôn quá ít. Ở nước ngoài người ta nói đi cày
nhiều jobs trong cùng thời gian, nhưng có lẽ chưa nhiều jobs bằng tôi lúc bấy
giờ ơ VN. Nghĩ đến việc đưa con ra hải ngoại thật là vô vọng. Ai cho đi ? Không
người thân bảo lãnh. tôi âm thầm học hỏi chờ thời. Đi thi mấy xuất học bổng, đến
giờ cuối họ bảo chỉ ưu tiên cho Hà Nội. Trời không phụ lòng người, năm 1999 tôi
cũng tốt nghiệp master kinh tế, cũng là năm tôi đạt được học bổng ngắn hạn do
đại diện Canada đến tuyển trực tiếp không thông qua rào cản "con ông cháu cha"
VN. Giải tán cửa hàng, gửi con lại VN, đứa ở với Dì, đứa ở với Cậu, tôi ra đi
tay không, một mình trong nước mắt nhìn con qua phòng cách ly của phi trường. "
Phải chịu khó chờ mẹ các con ơi!". Khóa học 3 tháng kết thúc. Tôi được chấp
nhận ở lại Canada chính thức. Cuộc đời tự do và bắt đầu lại từ đây. Tôi không
xin sự giúp đở kinh tế nào mà phải tự kiếm việc để sinh sống và thuê chổ trú
thân. Tôi đi tìm tự do ở cái tuổi gần 50. Quá muộn? Không, có còn hơn không. Qua
nhiều trôi nổi từ các vùng phía đông Woostock, Nackawic, Fredericton, Saint
John, New Brunswick, Halifax....cuối cùng tôi tìm về thủ đô Ottawa vào ngày thế
giới đang chào đón Thiên niên kỷ 21 trong tháng Giêng đầy tuyết và lạnh khủng
khiếp. Không có một người thân, bạn bè nào, tôi ngôì ở bến xe tại thủ đô của đất
nước tự do nhất nhì thế giới, nhìn ra trời tuyết không biết phải đi đâu đêm nay.
Nhớ con ..tôi nghĩ đến
câu chuyện tiểu thuyết " Vô gia đình " của Hector Malot. Cuối cùng tôi cũng tìm
được một gia đình xin vào ở trọ. Rôi
đi làm việc, thay đổi nhiều chỗ ở, làm
nhiều việc khác nhau suốt tuần :giữ trẻ, phụ bếp, bồi phòng khách sạn, công nhân
sản xuất....Ngày làm việc, đêm đi học thêm Anh văn ESL và học kỹ thuật điện tử ở
trường cao đẳng. Khuya về nói chuyện với con, dạy dỗ, khuyên nhũ qua thư từ,
điện thoại và máy vi tính. Trời quá lạnh, tuyết ngập đường...nhưng cũng may sức
khỏe tôi chịu đựng rất tốt. Rồi tôi ra trường tìm được công việc khá hơn. Hai
năm sau, tôi dành dụm một số tiền mua condo 3 phòng ngủ. Tôi cho sinh viên thuê
phòng và nấu ăn cho họ, vừa giáp họ, vừa có thêm tiền trả nợ ngân hàng, chi phí
nhà cửa, mua xe cộ và phí bảo lãnh con cái.
Cuối năm 2003 tôi ra phi
trường Ottawa đón các con sang đoàn tụ. Ôi! Tôi không thể tả được nỗi vui mừng
trên gương mặt mất ngủ của
mình trước khi con đến. Mới xa mấy năm, hai con tôi
đã trở thành hai thanh niên cao lớn khỏe mạnh với gương mặt thấp thoáng nét cha.
Các con tôi mang theo một người không cần vé máy bay. Đó là di ảnh của anh trên
bàn thờ. Tôi lại gặp và độc thoại với anh. Thế là mộng ước của Anh đã thành sự
thật. Bốn chúng tôi bắt đầu cuộc sống mới ở xứ tự do, hạnh phúc. Khi tôi viết
dòng chữ nầy là cuối 2006, đúng 30 năm từ khi anh đi vào trại cải tạo. Đời qua
như mộng !. Tôi không biết nên kết thúc quyển nhật ký nầy hay vẫn để dở dang, vì
tôi đã mãn nguyện cuộc sống hạnh phúc bên con có thấp thoáng bóng hình anh như
20 năm xưa. Anh khuyên nhủ:
Anh có chết đâu mà em khóc
Anh chỉ làm một cuọc đi xa
Em ơi hãy ở lại nhà
Em nuôi con lớn nghĩa là gặp Anh
Hiện nay chúng tôi đã chuyển sang ngôi nhà lớn hơn và trả hết tiền nợ nhà, xe. Con trai cả làm chuyên viên máy tính cho một phi trường lớn, con nhỏ là sinh viên đại học. Các sinh viên ở trọ đã ra trường. Còn tôi, ba khoảng đời sống rõ rệt cho tôi: 25 năm tuổi trẻ sống thơ mộng trong chế độ tự do quốc gia, 25 năm sống trong chế độ CS độc tài...bây giờ tôi hy vọng có thể sống thêm 25 năm còn lại ở quê hương thứ hai - Canada tự do, hạnh phúc, không có hận thù. Hoặc tôi có thể chết sớm hay trễ hơn để gặp lại Moritz. Chưa biết được tương lai. Nhưng tôi biết anh vẫn chờ tôi. Chúng tôi sẽ cùng nhau về nước Chúa hay đất Phật, hoặc hóa kiếp thành đôi bướm hạnh phúc bay về Đàlạt cũ tiếp tục tình yêu dang dở.
Xin cảm ơn đất nước Canada đã cưu mang chúng tôi.
Canada cuối năm 2006
Hải Đông Đàlat